Định nghĩa sóng epsilon

  • Một khấc nhỏ (“blip” hoặc “wiggle”) ẩn trong phần cuối của phức bộ QRS
  • Trên điện tâm đồ 12 chuyển đạo tiêu chuẩn (S-ECG), thấy rõ nhất ở đoạn ST của V1 và V2, thường hiện diện ở các chuyển đạo V1 đến V4
  • Do khử cực muộn sau hoạt hóa của các tế bào cơ tim ở thất phải
  • Dấu hiệu đặc trưng ở bệnh nhân mắc loạn sản thất phải sinh loạn nhịp (ARVD)

Epsilon WavesEpsilon Waves

Sóng epsilon ở V1 do chậm dẫn truyền thất phải

Sóng epsilon là dấu hiệu đặc hiệu và điển hình nhất trong loạn sản thất phải sinh loạn nhịp (ARVD). Trong ARVD, các tế bào cơ tim bị thay thế bởi mô mỡ, tạo nên những đảo cơ tim còn sống trong nền mô mỡ. Điều này gây chậm khử cực một số tế bào cơ tim của thất phải, tạo ra một “blip” nhỏ thấy được trong đoạn ST của ECG.

Sóng epsilon cũng đã được mô tả ở bệnh nhân mắc:

  • Nhồi máu cơ tim thành sau
  • Nhồi máu thất phải
  • Bệnh thâm nhiễm
  • Sarcoidosis

Ví dụ ECG về sóng epsilon

ARVD-Epsilon_wave-590x155ARVD-Epsilon_wave-590x155 epsilon-wave-IIb-590x250 2epsilon-wave-IIb-590x250 2 epsilon-V1b-590x182 2epsilon-V1b-590x182 2 ARVD EpsilonARVD Epsilon Epsilon WavesEpsilon Waves

Chuyển đạo Fontaine

epsilon waves regular lead placement versus Fontaine lead placementepsilon waves regular lead placement versus Fontaine lead placement

So sánh S-ECG với F-ECG về khả năng phát hiện sóng epsilon (mũi tên). Gottschalk et al 2014

Đặt chuyển đạo Fontaine làm tăng độ nhạy phát hiện sóng epsilon, nên có thể phát hiện ở ba chuyển đạo (FI, FII, FIII) thay vì chỉ một chuyển đạo như cách đặt thông thường.


Lịch sử của sóng epsilon

Guy Hugues Fontaine(1936-2018) là một bác sĩ tim mạch và điện sinh lý học người Pháp. Năm 1977, ông đã định nghĩa và đặt tên loạn sản thất phải sinh loạn nhịp ARVD; sóng epsilon; và cách đặt chuyển đạo Fontaine để khuếch đại sóng trên ECG tốt nhất

Thuật ngữ “epsilon” rất hay, vì nó đứng sau delta trong bảng chữ cái Hy Lạp; do đó, delta biểu thị hiện tượng tiền kích thích và epsilon biểu thị hiện tượng hậu kích thích. Ngoài ra, epsilon còn được dùng trong toán học để biểu thị một hiện tượng rất nhỏ

Fontaine 1997

Các chuyển đạo trước tim lưỡng cực kiểu Fontaine (F-ECG) có thể dùng để tăng độ nhạy phát hiện sóng epsilon. Các chuyển đạo được đặt như sau:

  • Tay phải (RA) đặt trên cán xương ức;
  • Tay trái (LA) đặt trên mỏm mũi kiếm;
  • và chân trái (LL) ở vị trí V4 tiêu chuẩn (khoang liên sườn 5, đường giữa đòn).

Thay vì các chuyển đạo I, II và III thông thường, nay có ba chuyển đạo ngực lưỡng cực được gọi là FI, FII và FIII, ghi lại các điện thế phát sinh ở thất phải, từ vùng phễu đến cơ hoành.

Chuyển đạo lưỡng cực thẳng đứng FI (tương tự aVF) làm tăng rõ điện thế nhĩ và có thể dùng để ghi:

  • sóng epsilon;
  • tìm phân ly nhĩ thất trong nhịp nhanh thất;
  • và nghiên cứu các rối loạn nhịp nhĩ bất thường khi sóng P quá nhỏ trên các chuyển đạo thông thường.

Fontaine lead placement FI F II F III with heart and vectorsFontaine lead placement FI F II F III with heart and vectors

Các chuyển đạo trước tim lưỡng cực Fontaine (F-ECG)


Nghiên cứu lâm sàng

Năm 2010, Wang et al công bố nghiên cứu về sóng epsilon được phát hiện bằng các phương pháp ghi điện tâm đồ khác nhau ở bệnh nhân mắc bệnh cơ tim thất phải sinh loạn nhịp. Đặc biệt, họ so sánh ba phương pháp ECG: S-ECG, R-ECG và F-ECG ở các bệnh nhân ARVD/C đã biết.

Họ xác định 3 kiểu sóng epsilon:

  • (A) sóng lượn
  • (B) sóng nhọn nhỏ [B1 – nhọn hướng lên; B2 – nhọn hướng xuống]
  • (C) sóng điện thế trơn, với thời gian QRS ở V1 dài hơn thời gian QRS ở V3 ít nhất 25ms.

Patterns of epsilon waves wang et al 2010 2Patterns of epsilon waves wang et al 2010 2

Các kiểu sóng epsilon. Wang et al 2010

Họ nhận thấy rằng

  • Thời gian và biên độ của sóng epsilon phát hiện bằng F-ECG dài hơn và lớn hơn so với hai phương pháp ghi ECG còn lại.
  • Sóng epsilon có độ nhạy tương đối thấp, chỉ biểu hiện trên S-ECG ở 20% đến 25% bệnh nhân ARVC; và các sóng này thường thấy ở các chuyển đạo V1 đến V3.
  • Sóng epsilon được phát hiện ở 38% tổng số bệnh nhân bằng S-ECG và tăng lên 50% khi dùng F-ECG.
  • Tỷ lệ phát hiện sóng epsilon bằng phối hợp các phương pháp ghi ECG cao hơn đáng kể so với chỉ S-ECG đơn thuần (S-ECG 38%; SF-ECG 56%; và SRF-ECG 66%, P=0.0039).

Loạn sản thất phải sinh loạn nhịp (ARVD)

Các thay đổi ECG trong Loạn sản thất phải sinh loạn nhịp bao gồm:

  • Sóng epsilon (dấu hiệu đặc hiệu nhất, gặp ở 50% bệnh nhân)
  • Đảo ngược sóng T ở V1-3 (85% bệnh nhân)
  • Độ dốc lên của sóng S kéo dài 55ms ở V1-3 (95% bệnh nhân)
  • Giãn rộng QRS khu trú 110ms ở V1-3
  • Các cơn nhịp nhanh thất kịch phát với hình thái LBBB (nhịp nhanh vùng đường ra thất phải)

Ví dụ ECG
Ví dụ 1

Arrhythmogenic Right Ventricular Cardiomyopathy (ARVC) ECG ARVDArrhythmogenic Right Ventricular Cardiomyopathy (ARVC) ECG ARVD

Hình:  heartpearls.com

  • Điện tâm đồ 12 chuyển đạo là một ví dụ điển hình của ARVD.

Prolonged S-wave upstroke in ARVDProlonged S-wave upstroke in ARVD

Độ dốc lên của sóng S kéo dài trong ARVD


Ví dụ 2

Nam 26 tuổi vào cấp cứu vì hồi hộp, chóng mặt và vã mồ hôi. Không than phiền đau ngực hay khó thở.

ECG lúc đến viện:

sustained VT with LBBB pattern 1sustained VT with LBBB pattern 1

Chẩn đoán ECG: nhịp nhanh thất dai dẳng với hình thái LBBB, nhịp tim = 125 bpm và trục QRS lên phải (chỉ có chuyển đạo aVR có phức bộ QRS dương). Trục bất thường này là dấu hiệu điển hình của nhịp nhanh thất với ổ khởi phát ở mỏm thất phải.

ECG sau chuyển nhịp

sustained VT with LBBB pattern post cardioversion 2sustained VT with LBBB pattern post cardioversion 2

Điện thế thấp đồng đều của các phức bộ QRS. Sóng epsilon ở V2 và chuyển đạo II. Đảo ngược sóng T ở tất cả các chuyển đạo trước tim

F-ECG

Fontaine leads showing epsilon waves in ARVD C 2019Fontaine leads showing epsilon waves in ARVD C 2019

Ví dụ điển hình của bệnh cơ tim sinh loạn nhịp có tổn thương thất trái. Sóng ε (mũi tên).
Pérez-Riera AR. 2019


Ví dụ 3

Arrhythmogenic Right Ventricular Dysplasia (ARVD) 002Arrhythmogenic Right Ventricular Dysplasia (ARVD) 002

Nhịp nhanh thất với hình thái LBBB do ARVD


Chủ đề liên quan

Tài liệu tham khảo
  • Corrado D, Biffi A, Basso C, Pelliccia A, Thiene G. Twelve-lead ECG in the athlete: physiological versus pathological abnormalities. Br J Sports Med 2009; 43: 669-676. [PMID: 19734501]
  • Perez Diez D, Brugada J. Diagnosis and Management of Arrhythmogenic Right Ventricular Dysplasia: Một bài viết từ E-Journal of the ESC Council for Cardiology Practice, European Society of Cardiology 2008.
  • Fontaine G et al. Stimulation studies and epicardial mapping in ventricular tachycardia: study of mechanisms and selection for surgery. In: Kulbertus HE, ed. Re-entrant Arrhythmias: Mechanisms and Treatment. 1977: 334 –350.
  • B. Gottschalk et al. The use of Fontaine leads in the diagnosis of arrhythmogenic right ventricular dysplasia. Ann Noninvasive Electrocardiol, 2014; 19(3): 279-284

Kiến thức cơ bản về thư viện ECG

Đọc thêm nâng cao

Trực tuyến

Sách


Đọc thêm LITFL

THƯ VIỆN ECG

xem thêm EKG…

Mike Cadogan

BA MA (Oxon) MBChB (Edin) FACEM FFSEM. Bác sĩ cấp cứu, Bệnh viện Sir Charles Gairdner. Đam mê bóng bầu dục; tiền sử bệnh; giáo dục y khoa; và học tập không đồng bộ, người cổ vũ #FOAMed. Đồng sáng lập và CTO của Life in the Fast lane | On Call: Principles and Protocol 4e| Eponyms | Books |

Robert Buttner

MBBS DDU (Emergency) CCPU. Bác sĩ nội trú chuyên ngành Cấp cứu Người lớn/Nhi khoa tại Melbourne, Australia. Quan tâm đặc biệt đến siêu âm chẩn đoán và thủ thuật, giáo dục y khoa, và diễn giải ECG. Đồng sáng tạo ECG Library của LITFL. Twitter: @rob_buttner