Nhịp tim được phân tích tốt nhất bằng cách xem một strip nhịp tim. Trên ECG 12 chuyển đạo, đây thường là bản ghi 10 giây từ chuyển đạo II.

  • Xác nhận hoặc củng cố bất kỳ phát hiện nào ở chuyển đạo này bằng cách kiểm tra các chuyển đạo khác.
  • Một strip nhịp tim dài hơn, có thể được ghi ở tốc độ chậm hơn, có thể hữu ích.

Cách tiếp cận 7 bước để phân tích nhịp ECG

1. Tần số
  • Nhịp nhanh hay nhịp chậm?
  • Tần số bình thường là 60-100/phút.

2. Mẫu của các phức bộ QRS
  • Đều hay không đều?
  • Nếu không đều thì là không đều theo quy luật hay không đều hoàn toàn?

3. Hình thái phức bộ QRS
  • Phức bộ hẹp: nguồn gốc xoang, nhĩ hoặc nút.
  • Phức bộ rộng: nguồn gốc thất, hoặc trên thất với dẫn truyền lệch hướng.

4. Sóng P
  • Không có: ngừng xoang, rung nhĩ
  • : hình thái và khoảng PR có thể gợi ý nguồn gốc xoang, nhĩ, nút hoặc thậm chí dẫn truyền ngược từ thất.

5. Mối liên hệ giữa sóng P và phức bộ QRS
  • Liên hệ nhĩ-thất (có thể khó phân biệt với phân ly đẳng nhịp)
  • Phân ly nhĩ-thất
    • hoàn toàn: hoạt động nhĩ và thất luôn độc lập.
    • không hoàn toàn: có bắt giữ thất từng lúc.

6. Khởi phát và kết thúc
  • Đột ngột: gợi ý cơ chế vào lại.
  • Từ từ: gợi ý tăng tính tự động.

7. Đáp ứng với nghiệm pháp phế vị
  • Nhịp nhanh xoang, loạn nhịp nhanh nhĩ ngoại vị: chậm dần trong lúc làm nghiệm pháp phế vị, nhưng trở lại sau khi ngừng.
  • AVNRT hoặc AVRT: ngừng đột ngột hoặc không đáp ứng.
  • Rung nhĩcuồng nhĩ: chậm dần trong lúc làm nghiệm pháp.
  • VT: không đáp ứng.

Chẩn đoán phân biệt

Theo các liên kết bên dưới để xem ví dụ của từng loại nhịp.

Nhịp nhanh phức bộ hẹp (trên thất)

NHĨ – ĐỀU


NHĨ – KHÔNG ĐỀU


NHĨ THẤT


Nhịp nhanh phức bộ rộng (BCT)

BCT ĐỀU

Lưu ý: Mọi BCT đều nên được xem là VT cho đến khi chứng minh được điều ngược lại.


KHÔNG ĐỀU


Nhịp chậm

SÓNG P HIỆN DIỆN
1. Mọi sóng P đều theo sau bởi một phức bộ QRS (= rối loạn chức năng nút xoang)
2. Không phải mọi sóng P đều theo sau bởi một phức bộ QRS (= rối loạn chức năng nút nhĩ thất)

KHÔNG CÓ SÓNG P

Để xảy ra các nhịp thoát, phải có sự thất bại trong tạo xung của nút xoang hoặc dẫn truyền qua nút nhĩ thất.


Đọc thêm nâng cao

Trực tuyến

Sách giáo khoa


Đọc thêm từ LITFL

THƯ VIỆN ECG

xem thêm EKG…

Chris Nickson

Chris là bác sĩ hồi sức tích cực và chuyên gia ECMO tại ICU The Alfred, nơi ông là Phó Giám đốc (Giáo dục). Ông là Phó Giáo sư thỉnh giảng lâm sàng tại Đại học Monash, phụ trách chương trình Clinician Educator Incubator, và là giám khảo phần 1 của CICM.

Ông là một nhà giáo dục lâm sàng được công nhận quốc tế, có đam mê giúp các bác sĩ học tập và cải thiện hiệu quả lâm sàng của cá nhân và tập thể. Ông là một trong những người sáng lập phong trào FOAM (Free Open-Access Medical education) và đã được ghi nhận những đóng góp cho giáo dục bằng các giải thưởng từ ANZICS, ANZAHPE và ACEM.

Thành tựu lớn nhất của ông là làm cha của ba người con tuyệt vời.

Trên Bluesky, ông là @precordialthump.bsky.social và trên trang mà Elon đã làm hỏng, ông là @precordialthump.

| INTENSIVE | RAGE | Resuscitology | SMACC |