ECG là một trong những thăm dò hữu ích nhất trong y học. Các điện cực gắn vào ngực và/hoặc các chi ghi nhận những thay đổi điện thế nhỏ dưới dạng hiệu điện thế, sau đó được chuyển thành một đường ghi hiển thị
Các mốc giải phẫu cơ bản
Hệ thống 3 điện cực
- Sử dụng 3 điện cực (RA, LA và LL)
- Màn hình theo dõi hiển thị các chuyển đạo lưỡng cực (I, II và III)
- Để đạt kết quả tốt nhất – Đặt các điện cực trên thành ngực cách đều tim (thay vì ở các chi cụ thể)
Đặt điện cực 3 chuyển đạo
Hệ thống 5 điện cực
- Sử dụng 5 điện cực (RA, RL, LA, LL và Chest)
- Màn hình theo dõi hiển thị các chuyển đạo lưỡng cực (I, II và III)
- VÀ một chuyển đạo đơn cực duy nhất (tùy theo vị trí của điện cực ngực màu nâu (các vị trí V1–6))
Đặt điện cực 5 chuyển đạo
ECG 12 chuyển đạo
- Cần 10 điện cực để tạo ECG 12 chuyển đạo
- 4 điện cực ở cả 4 chi (RA, LL, LA, RL)6 điện cực ở vùng trước tim (V1–6)
- Màn hình theo dõi hiển thị 12 chuyển đạo (V1–6), (I, II, III) và (aVR, aVF, aVL)
- Cho phép diễn giải các vùng cụ thể của tim
- Thành dưới (II, III, aVF)Bên (I, aVL, V5, V6)Trước (V1–4)
Vị trí đặt chuyển đạo trước tim trong ECG 12 chuyển đạo
- V1: khoang liên sườn (ICS) 4, bờ PHẢI của xương ức
- V2: khoang liên sườn 4 dọc theo bờ TRÁI của xương ức
- V4: khoang liên sườn 5, đường giữa đòn
- V3: ở giữa V2 và V4
- V5: khoang liên sườn 5, đường nách trước (cùng mức với V4)
- V6: khoang liên sườn 5, đường nách giữa (cùng mức với V4)
Đặt điện cực ECG chuẩn 12 chuyển đạo
Các vị trí đặt chuyển đạo bổ sung
Đặt điện cực ECG bên phải
Có một số cách ghi ECG bên phải:
- Có thể thu được đầy đủ các chuyển đạo bên phải bằng cách đặt các chuyển đạo V1-6 ở vị trí đối xứng gương trên bên phải lồng ngực (xem hình dưới).
- Có thể đơn giản hơn nếu giữ V1 và V2 ở vị trí thường quy và chỉ chuyển các chuyển đạo V3-6 sang bên phải lồng ngực (tức là V3R đến V6R).
Đặt điện cực ECG 12 chuyển đạo bên phải
- Chuyển đạo hữu ích nhất là V4R, được thu bằng cách đặt điện cực V4 ở khoang liên sườn 5 bên phải trên đường giữa đòn.
- Đoạn ST chênh lên ở V4R có độ nhạy 88%, độ đặc hiệu 78% và độ chính xác chẩn đoán 83% trong chẩn đoán NMCT thất phải. [xem STEMI thành dưới]
Đặt chuyển đạo ECG V4R
Đặt chuyển đạo ECG V4R
Erhardt và cộng sự là những người đầu tiên mô tả việc sử dụng chuyển đạo trước tim bên phải (CR4R hay V4R) trong chẩn đoán nhồi máu thất phải, tình trạng trước đây từng được cho là im lặng trên điện tâm đồ. [Single right-sided precordial lead in the diagnosis of right ventricular involvement in inferior myocardial infarction. Am Heart J. 1976]
Các chuyển đạo sau
Các chuyển đạo V7-9 được đặt ở thành ngực sau tại các vị trí sau:
- V7 – đường nách sau trái, cùng mặt phẳng ngang với V6.
- V8 – mỏm xương bả vai trái, cùng mặt phẳng ngang với V6.
- V9 – vùng cạnh cột sống bên trái, cùng mặt phẳng ngang với V6.
Xem STEMI thành sau
Các chuyển đạo sau V7 V8 V9
Chuyển đạo Lewis (chuyển đạo S5)
Cấu hình chuyển đạo Lewis có thể giúp phát hiện hoạt động nhĩ và mối liên quan của nó với hoạt động thất. Được đặt theo tên bác sĩ tim mạch người xứ Wales Sir Thomas Lewis (1881-1945), người đầu tiên mô tả vào năm 1913. Hữu ích trong:
- Quan sát sóng cuồng nhĩ trong cuồng nhĩ
- Phát hiện sóng P trong nhịp nhanh phức bộ QRS rộng để xác định phân ly nhĩ-thất
Vị trí đặt chuyển đạo Lewis
- Điện cực cánh tay phải (RA) đặt ở cán xương ức
- Điện cực cánh tay trái (LA) đặt trên khoang liên sườn 5, bờ phải xương ức.
- Điện cực chân trái (LL) đặt trên bờ sườn dưới bên phải.
- Chuyển đạo I trên màn hình
Vị trí đặt chuyển đạo Lewis (chuyển đạo S5)
Mô tả nguyên bản của chuyển đạo Lewis (1913)
Thomas Lewis đã phát triển và mô tả (1913) cấu hình chuyển đạo của mình để làm nổi bật các dao động nhĩ hiện diện trong rung nhĩ.
Khi có rung và các điện cực nằm gần nhĩ phải (các chuyển đạo 1 và 2 trong sơ đồ), các dao động là tối đa, và chỉ có một phần rất nhỏ của các nhịp thất. Khi chúng nằm theo trục dài của tim (chuyển đạo 3) thì cả dao động và phức bộ thất đều rõ. Cuối cùng, khi chúng nằm dọc theo bờ thất trái hoặc phải (các chuyển đạo 4 và 5) thì các phức bộ thất rõ nét trong khi các dao động nhỏ hoặc không có.
Các điện tâm đồ tương ứng được trình bày bên dưới sơ đồ, trong đó đường ghi đầu tiên là từ chuyển đạo II thường quy (cánh tay phải đến chân trái). Các dao động của rung có thể được nhận diện dễ dàng theo cách này và nguồn gốc của chúng ở tâm nhĩ được chỉ ra rõ ràng. Ở các đối tượng run, không thấy dao động ở bất kỳ chuyển đạo đặc biệt nào.
Sơ đồ thành ngực thể hiện các chuyển đạo đặc biệt (1 đến 5) được dùng để nhận diện các dao động của rung nhĩ; đồng thời có sáu điện tâm đồ.
Lewis T. Rung nhĩ 1913
Điện tâm đồ thứ nhất là từ chuyển đạo II; nó gồm các phức bộ thất đặt không đều (R, T) và các dao động lớn, liên tục (f f).
Năm đường ghi còn lại là từ thành ngực.
- 1 và 2 được ghi từ vùng nằm trên nhĩ phải; ở các chuyển đạo này, dao động là tối đa và các phức bộ thất là tối thiểu.
- 3 được ghi từ một chuyển đạo chéo bao phủ toàn bộ tim, và cho thấy cả dao động lẫn phức bộ thất.
- 4 và 5 được ghi từ các chuyển đạo dọc theo bờ thất; chúng chỉ cho thấy rất ít dấu hiệu của dao động.
Chuyển đạo Fontaine
Các chuyển đạo trước tim lưỡng cực Fontaine (F-ECG) được dùng để tăng độ nhạy phát hiện sóng epsilon. Được đặt theo tên bác sĩ tim mạch và điện sinh lý học người Pháp Guy Hugues Fontaine(1936-2018). Các chuyển đạo được đặt như sau:
- Cánh tay phải (RA) ở trên cán xương ức;
- Cánh tay trái (LA) ở trên mỏm xương ức;
- và chân trái (LL) ở vị trí tiêu chuẩn V4 (ICS 5, MCL).
Thay vì các chuyển đạo I, II và III thường quy, giờ có ba chuyển đạo ngực lưỡng cực được gọi là FI, FII và FIII, ghi lại các điện thế hình thành ở thất phải, từ vùng nón đến cơ hoành.
Chuyển đạo lưỡng cực thẳng đứng FI, (tương tự aVF) làm tăng biên độ các điện thế nhĩ và có thể dùng để ghi:
- sóng epsilon;
- tìm phân ly nhĩ-thất trong nhịp nhanh thất;
- và nghiên cứu các nhịp nhĩ bất thường khi sóng P quá nhỏ trên các chuyển đạo thường quy.
Các chuyển đạo trước tim lưỡng cực Fontaine (F-ECG)
Hướng dẫn điện cực ECG
Video ECG Academy
Chuyển đạo ECG
Chuyển đạo chi
Các chuyển đạo trước tim
Chủ đề liên quan
Đọc thêm nâng cao
Trực tuyến
- Wiesbauer F, Kühn P. Khóa học trực tuyến ECG Mastery: Yellow Belt. Hiểu các nguyên lý cơ bản của ECG. Medmastery
- Wiesbauer F, Kühn P. Khóa học trực tuyến ECG Mastery: Blue Belt: Trở thành chuyên gia ECG. Medmastery
- Kühn P, Houghton A. Hội thảo ECG Mastery: Black Belt. Diễn giải ECG nâng cao. Medmastery
- Rawshani A. Diễn giải ECG lâm sàng ECG Waves
- Smith SW. Blog ECG của Dr Smith.
- Wiesbauer F. Little Black Book of ECG Secrets. Tệp PDF Medmastery
Sách giáo khoa
- Zimmerman FH. ECG Core Curriculum. 2023
- Mattu A, Berberian J, Brady WJ. Emergency ECGs: Case-Based Review and Interpretations, 2022
- Straus DG, Schocken DD. Marriott’s Practical Electrocardiography 13e, 2021
- Brady WJ, Lipinski MJ et al. Electrocardiogram in Clinical Medicine. 1e, 2020
- Mattu A, Tabas JA, Brady WJ. Electrocardiography in Emergency, Acute, and Critical Care. 2e, 2019
- Hampton J, Adlam D. The ECG Made Practical 7e, 2019
- Kühn P, Lang C, Wiesbauer F. ECG Mastery: The Simplest Way to Learn the ECG. 2015
- Grauer K. ECG Pocket Brain (Expanded) 6e, 2014
- Surawicz B, Knilans T. Chou’s Electrocardiography in Clinical Practice: Adult and Pediatric 6e, 2008
- Chan TC. ECG in Emergency Medicine and Acute Care 1e, 2004
Đọc thêm từ LITFL
- ECG Library Basics – Sóng, khoảng, đoạn và diễn giải lâm sàng
- ECG A to Z by diagnosis – Diễn giải ECG trong bối cảnh lâm sàng
- ECG Exigency và Cardiovascular Curveball – Các ca lâm sàng ECG
- 100 ECG Quiz – Công cụ tự đánh giá để luyện thi
- ECG Reference SITES and BOOKS – những tài liệu tốt nhất còn lại
THƯ VIỆN ECG
Mike Cadogan
BA MA (Oxon) MBChB (Edin) FACEM FFSEM. Bác sĩ cấp cứu, Bệnh viện Sir Charles Gairdner. Đam mê bóng bầu dục; tiền sử y học; giáo dục y khoa; và học tập không đồng bộ #FOAMed evangelist. Đồng sáng lập và CTO của Life in the Fast lane | On Call: Principles and Protocol 4e| Eponyms | Books |











