Mô tả

Nhịp Dressler: Cụ thể là một ‘nhịp hợp nhất thất‘ trong bối cảnh nhịp nhanh thất kịch phát. Thường được quan sát trên các dải ECG của nhịp nhanh phức bộ QRS rộng như VT với phân ly nhĩ-thất.

Xung động trên thất và xung động thất đồng thời xảy ra tạo nên một phức bộ lai khác với phức bộ VT và phức bộ nội tại (nhịp bắt được)

Thuật ngữ ‘nhịp hợp nhất‘ ban đầu được dùng để định nghĩa bất kỳ phức bộ QRS lai nào có nguồn gốc từ nhĩ hoặc thất. Nhịp hợp nhất (và nhịp bắt được) không mang tính ‘chẩn đoán‘ hay ‘đặc hiệu‘ cho VT và có thể gặp trong bất kỳ loạn nhịp nào (ví dụ, bao gồm cả SVT có dẫn truyền lệch hướng)


Lịch sử của nhịp Dressler

1943 – W. Trevor Cooke và Paul D. White, khi viết về nhịp nhanh thất kịch phát, đã đưa vào hai bản ghi (Hình 13, Ca 21; và Hình 1, Ca 22) cho thấy sự thay đổi hình dạng của các phức bộ thất dường như do dẫn truyền các kích thích xoang-nhĩ.

Khi bàn về Hình 1, Ca 22, các tác giả nhận xét rằng “…có các đoạn ngắt quãng trong nhịp thất ở chuyển đạo I và II…” mà không bình luận về cơ chế liên quan.

Cooke and White Dressler beat

[Cooke, White: Br Heart J. 1943]


1948 – Malinow và Langendorf đã xây dựng một bảng phân loại cho các kiểu ‘nhịp hợp nhất‘ khác nhau và minh họa các cơ chế được đề xuất cho sự hình thành nhịp hợp nhất. Theo phân loại mà họ đề xuất – nhịp hợp nhất không đồng nghĩa với VT.

Vì các xung động hợp nhất có thể có nguồn gốc khác nhau hoặc giống nhau, và vì sự hợp nhất phản ánh trên điện tâm đồ có thể xảy ra ở nhĩ hoặc ở thất bốn loại nhịp hợp nhất khác nhau có thể được phân biệt.

Fusion-Beat-classification-Malinow-Langendorf-1948Fusion-Beat-classification-Malinow-Langendorf-1948


1952Dressler cho biết rằng “…các báo cáo trong y văn về sự xuất hiện của nhịp hợp nhất thất trong nhịp nhanh thất kịch phát rất ít.” Ông báo cáo sáu trường hợp nhịp nhanh thất kịch phát, cho thấy các biến đổi của phức bộ thất “chuyển tiếp về hình dạng sang các nhịp xoang-nhĩ” và gọi chúng là ‘nhịp hợp nhất thất.

Có sáu trường hợp nhịp nhanh thất kịch phát được báo cáo, cho thấy các biến đổi của phức bộ thất chuyển tiếp về hình dạng sang các nhịp xoang-nhĩ. Các biến đổi này do dẫn truyền các kích thích nhĩ đến thất, phần lớn dẫn đến nhịp hợp nhất thất. Tính đều của nhịp thất chỉ bị rối loạn hiếm khi do dẫn truyền các kích thích nhĩ.

Trong bối cảnh nhịp nhanh thất kịch phát, phân ly với nhiễu hiếm khi phát triển do chu kỳ thất ngắn. Khi xảy ra, tần số thất thường dưới 150 lần/phút

Phát hiện các phức bộ thất có cấu hình chuyển tiếp sang các nhịp xoang-nhĩ có thể giúp ích trong chẩn đoán nhịp nhanh thất kịch phát khi không dễ nhận biết được một nhịp nhĩ độc lập.

Dressler W: Am Heart J. 1952 ;44(4):485-493

Dressler Beat fusion beat VT 1952Dressler Beat fusion beat VT 1952

Dressler 1952 description of fusion beats in VT


1962 – Marriott, Schwartz và Bix đã tổng quan và minh họa các giai đoạn phát triển của nhịp hợp nhất thất trong nhiều loại nhịp khác nhau. Họ định nghĩa nhịp hợp nhất thất là

…các nhịp cộng gộp hoặc nhịp kết hợp xảy ra khi hai bộ phát nhịp riêng biệt cạnh tranh để kiểm soát các thất. Cặp bộ phát nhịp thường gặp là nút xoang và một ổ ngoại vị thất; nhưng bất kỳ cặp bộ phát nhịp nào mà xung động của chúng xâm nhập cơ tim thất gần như đồng thời nhưng tại các vị trí khác nhau đều có thể tạo ra nhịp hợp nhất.

Marriott: Circulation. 1962

Ventricular Fusion Beats - Marriott 1962Ventricular Fusion Beats - Marriott 1962

Marriott: Circulation. 1962

Young et al nhịp Dressler trong VT (1973)

Dressler-Beat-Young 1973Dressler-Beat-Young 1973

HÌNH 3. Dải ghi trong cơn nhịp nhanh thất kịch phát cho thấy nhiều nhịp Dressler
(mũi tên). Nhịp thứ ba được đánh dấu đặc biệt hẹp và biểu hiện gần như bắt được hoàn toàn trên thất. [Young et al: Chest. 1973]


Tranh cãi

Có lẽ nên quay lại sử dụng ‘nhịp Dressler‘ trong bối cảnh VT. Thuật ngữ ‘nhịp hợp nhất’ ban đầu được dùng để định nghĩa bất kỳ phức bộ QRS lai nào có nguồn gốc từ nhĩ hoặc thất. Nhịp hợp nhất (và nhịp bắt được) không ‘chẩn đoán‘ VT và có thể gặp trong bất kỳ loạn nhịp nào (ví dụ, bao gồm cả SVT có dẫn truyền lệch hướng)

Nhiều ấn phẩm trích dẫn nhịp Dressler như là nhịp hợp nhất hoặc nhịp bắt được. Dressler mô tả phức bộ lai bất thường đi kèm với nhịp hợp nhất thất (nhịp Dressler) trái ngược với phức bộ nội tại trong VT (nhịp bắt được)

Trong bốn cơn nhịp nhanh thất, các nhịp bắt được (nhịp Dressler) dẫn đến nhịp thất không đều.

Wellens (1978)

Nhịp trên thất được dẫn truyền có thể đến đồng thời với xung phát từ ổ ngoại vị, khi đó các phức bộ có thể xuất hiện với cấu hình trung gian giữa bình thường và của VT.

Lown (1973)

Fusion-and-capture-beat-Lown-1973Fusion-and-capture-beat-Lown-1973

Nhịp nhanh VT nhanh với tần số 200/phút ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp. Mũi tên thứ nhất chỉ một nhịp hợp nhất và xảy ra tại khoảng chu kỳ gần như giống với khoảng liên ổ ngoại vị. Mũi tên thứ hai chỉ một nhịp được bắt hoàn toàn xuất hiện tại chu kỳ ngắn hơn nhịp nhanh. [Lown: Circulation. 1973]


Các cá nhân liên quan

Tên gọi khác
  • Nhịp hợp nhất
  • Nhịp hợp nhất thất

Tài liệu tham khảo

Đọc thêm từ LITFL

Đọc nâng cao

THƯ VIỆN ECG

more EKG…

Mike Cadogan

BA MA (Oxon) MBChB (Edin) FACEM FFSEM. Bác sĩ cấp cứu, Bệnh viện Sir Charles Gairdner. Đam mê rugby; lịch sử y học; giáo dục y khoa; và học tập không đồng bộ #FOAMed evangelist. Đồng sáng lập và CTO của Life in the Fast lane | On Call: Principles and Protocol 4e| Eponyms | Books |

Robert Buttner

MBBS DDU (Emergency) CCPU. Bác sĩ nội trú cao cấp chuyên ngành Cấp cứu Người lớn/Nhi khoa tại Melbourne, Úc. Quan tâm đặc biệt đến siêu âm chẩn đoán và thủ thuật, giáo dục y khoa và diễn giải ECG. Đồng sáng tạo ECG Library của LITFL. Twitter: @rob_buttner