Tổng quan về sóng delta

Sóng delta là sự lên dốc tù ở đầu phức bộ QRS. Nó liên quan đến tình trạng tiền kích thích của thất, vì vậy thường gây ra hiện tượng rút ngắn khoảng PR đi kèm. Sóng này thường gặp nhất trong các hội chứng tiền kích thích như WPW.

Các dấu hiệu ECG đặc trưng trong hội chứng Wolff-Parkinson-White là:

  • Khoảng PR ngắn (< 120ms)
  • QRS rộng (> 100ms)
  • Đầu lên của phức bộ QRS bị tù, chậm (sóng delta)

ECG Wolff-Parkinson-White WPW Delta wave

Sóng delta: Kích thích sớm thất gây ra đầu lên tù của QRS


Các ví dụ ECG của sóng delta
Sóng delta

delta wave positive deflectiondelta wave positive deflection

  • Lưu ý rằng phần còn lại của QRS vẫn bình thường — dẫn truyền vẫn xảy ra qua nút AV và đây là đường dẫn chủ yếu. Khi đến thất, sự dẫn truyền như vậy sẽ triệt tiêu bất kỳ tình trạng tiền kích thích nào đã xảy ra qua một đường dẫn phụ

Sóng delta âm (ví dụ thấy ở chuyển đạo aVR)

delta wave negative deflectiondelta wave negative deflection

  • Những thay đổi này đơn giản là đối ứng với các thay đổi thấy ở các chuyển đạo II, aVL, V5 và V6

Lịch sử của sóng delta

1930Wolff L, Parkinson J, và White PD công bố 11 ca như một mô tả xác định của hội chứng – ‘Block nhánh với khoảng P-R ngắn ở người trẻ khỏe mạnh dễ bị nhịp nhanh kịch phát.’ Một tổng quan y văn đã xác nhận và thừa nhận các trường hợp đã được mô tả trước đó như trên. Wolff, Parkinson và White nhầm lẫn cho rằng phức bộ QRS rộng là do một dạng block nhánh.

WPW 1930 Fig 6WPW 1930 Fig 6

Hình 6. Ca III. WPW 1930

1933 – Wolferth và Wood cho rằng sự tù bất thường của phần đầu phức bộ QRS, và sự kéo dài của phức bộ QRS không phải do block nhánh mà là do:

…một sự tăng tốc thực sự của sự dẫn truyền xung từ tâm nhĩ đến một phần của tâm thất… phù hợp với khả năng rằng một đường dẫn phụ của dẫn truyền AV như Kent mô tả giữa tâm nhĩ phải và tâm thất phải có thể chịu trách nhiệm cho hiện tượng biểu hiện trong các trường hợp này

Wolferth CC, Wood FC. 1933

1944 – Marcel Segers cùng Lequime và Denolin được ghi nhận là những người đề xuất dùng ký hiệu Δ để biểu thị hình tam giác ở đáy của phức bộ QRS đi lên. Họ mô tả ‘…sự biến dạng của đoạn PQ là kết quả của một lệch hướng điện bổ sung mà chúng tôi đề xuất gọi là Δ‘ . Điều này sau đó được mô tả phổ biến hơn là ‘sóng delta’

Delta wave 1944 Segers Fig 10Delta wave 1944 Segers Fig 10

Tuy nhiên, Segers và cộng sự thực ra đã đề xuất rằng sóng Δ là một sóng riêng biệt và tự trị nằm giữa P và Q. Họ có nêu rằng sóng này có thể hòa nhập với đáy của phức bộ QRS (hình C) để tạo thành một đầu lên tù, và quy cho sự hòa nhập của sóng Δ với hiện tượng block nhánh trong WPW (Hình D)

1944 Segers et al Delta wave origin1944 Segers et al Delta wave origin

Hình 1 (a, b, c, d) Segers et al 1944

Bản gốc

Tiếng Anh

Sơ đồ a: Sóng Δ được biểu diễn bằng một độ nghiêng đơn thuần của đoạn PQ.

Sơ đồ b: Bản ghi với sóng Δ hoàn toàn tự trị: điểm Q được ghi nhận rõ ràng sau Δ , và trong các điều kiện này, các khoảng PQ và QRS thực sự vẫn giữ giá trị bình thường.

Sơ đồ c: Bản ghi với sóng Δ tạo thành một “chân” gắn với QRS: sóng Q tương ứng với điểm uốn chuyển tiếp giữa Δ và R. Đường nét đứt cho thấy diễn tiến của sóng Δ tiếp tục trong suốt thời gian của phức bộ thất, theo giả thuyết của Eckey và Schäfer; sóng hai pha này sẽ chồng lên phức bộ thất bình thường và do đó quyết định sự chênh lệch đoạn ST và biến dạng của T.

Sơ đồ d: Các sóng Δ và QRS hoàn toàn hòa nhập thành một phức bộ đơn độc, giãn rộng kiểu block nhánh (hội chứng Wolff, Parkinson và White); điểm Q và đỉnh R không còn nhìn thấy và sóng T xuất hiện với “hình bậc thang”

Segers et al 1944

Diagram a: Sóng Δ được biểu diễn bằng một độ nghiêng đơn thuần của đoạn PQ.

Diagram b; Bản ghi với sóng Δ hoàn toàn tự trị: điểm Q được ghi nhận rõ ràng sau Δ , và trong các điều kiện này, các khoảng PQ và QRS thực sự vẫn giữ giá trị bình thường.

Diagram c: Bản ghi với sóng Δ tạo thành một “chân” gắn với QRS: sóng Q tương ứng với điểm uốn chuyển tiếp giữa Δ và R. Đường nét đứt cho thấy diễn tiến của sóng Δ tiếp tục trong suốt thời gian của phức bộ thất, theo giả thuyết của Eckey và Schäfer; sóng hai pha này sẽ chồng lên phức bộ thất bình thường và do đó quyết định sự chênh lệch đoạn ST và biến dạng của T.

Diagram d: Các sóng Δ và QRS hoàn toàn hòa nhập thành một phức bộ đơn độc, giãn rộng kiểu block nhánh (hội chứng Wolff-Parkinson-White); điểm Q và đỉnh R không còn nhìn thấy và sóng T xuất hiện với “hình bậc thang”

Segers et al 1944


Đọc thêm

Tài liệu tham khảo

Bài báo gốc

Bài tổng quan


Kiến thức cơ bản về thư viện ECG

Đọc nâng cao

Trực tuyến

Sách giáo khoa


Đọc thêm của LITFL

[cite]


THƯ VIỆN ECG

xem thêm EKG…

Mike Cadogan

BA MA (Oxon) MBChB (Edin) FACEM FFSEM. Bác sĩ cấp cứu, Bệnh viện Sir Charles Gairdner. Đam mê rugby; lịch sử y học; giáo dục y khoa; và học tập bất đồng bộ, người truyền bá #FOAMed. Đồng sáng lập và CTO của Life in the Fast lane | On Call: Principles and Protocol 4e| Eponyms | Books |

Robert Buttner

MBBS DDU (Emergency) CCPU. Bác sĩ nội trú chuyên khoa cấp cứu người lớn/nhi khoa tại Melbourne, Australia. Quan tâm đặc biệt đến siêu âm chẩn đoán và thủ thuật, giáo dục y khoa, và diễn giải ECG. Đồng sáng tạo Thư viện ECG của LITFL. Twitter: @rob_buttner